YG Entertainment






Bạn đang tìm hiểu về YG Entertainment, hôm
nay team mình sẽ chia sẻ đến bạn bài viết YG
Entertainment
được team mình tổng hợp và biên tập từ nhiều
nguồn trên internet. Hy vọng bài viết về chủ đề YG
Entertainment
hữu ích với bạn.



YG Entertainment
YG Entertainment Logo.svg
Tên bản ngữ
YG 엔터테인먼트
Tên phiên âm
YG enteoteinmeonteu
Ngành nghề Giải trí
Thành viên chủ chốt
Hwang Bo-kyung (CEO)
Doanh thu Tăng 228,81 triệu USD
(2021)[1]
Lợi nhuận kinh doanh
Tăng 32,02 triệu USD
(2021)[1]
Lãi thực
Giảm 6,53 triệu USD
(2021)[1]
Chủ sở hữu
  • Yang Hyun-suk (17.12%)
  • Naver (9.02%)
  • Shanghai Fengying Business Consultant Partnership Ltd.
    (5.78%)
  • Tencent Mobility Ltd. (4.37%)
  • Yang Min-suk (3.52%)
  • YG Entertainment, Inc. (0.78%)
  • Khác (59.42%)

[2]

Số nhân viên 339 (tính đến năm 2020)
Công ty con
  • YGX
  • YGKPlus
  • YGPlus
  • The Black Label
  • NONA9ON
  • moonshot
  • YG Golf Academy
  • 3geori Butchers
  • Shining Star Culture
Website ygfamily.com

YG Entertainment (tiếng
Hàn: YG 엔터테인먼트; RR: YG enteoteinmeonteu) là một công ty giải
trí Hàn Quốc được thành lập vào năm 1996 bởi Yang Hyun-suk. Công ty
hoạt động như một hãng thu âm, công ty tài năng, công ty sản xuất
âm nhạc, công ty quản lý sự kiện, sản xuất buổi hòa nhạc và nhà
xuất bản âm nhạc. YG còn điều hành một số công ty con thuộc một
công ty thương mại công cộng riêng biệt gồm một thương hiệu quần
áo, một cơ quan quản lý sân golf và một thương hiệu mỹ
phẩm.[3]

Các nghệ sĩ hiện tại bao gồm Sechskies, Big Bang,
Akdong Musician, Winner, iKON, Blackpink và Treasure cũng như các
diễn viên Kang Dong-won, Choi Ji-woo, Cha Seung-won, Lee Sung-kyung
và Yoo In-na và Son Na-eun. Các nghệ sĩ nổi bật khác bao gồm Jeon
So-mi (trực thuộc công ty con The Black Label) và Anda (trực thuộc
công ty con YGX).

Các cựu nghệ sĩ của công ty bao gồm Wheesung, Epik
High, 1TYM, Gummy, Seven, Minzy, Park Bom, 2NE1, Nam Tae-hyun, Lee
Jong-suk, Psy, Seungri, B.I, One, CL, Lee Hi, Jinusean và Sandara
Park.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

[add_random_link]

1996–2005: Nguồn gốc hip hop, thành công ban đầu
và thế hệ K-pop đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 1996, Yang Hyun-suk, cựu thành
viên của nhóm nhạc K-pop thế hệ đầu tiên, Seo Taiji and Boys, đã
thành lập YG Entertainment cùng với em trai của mình là Yang
Min-suk.[4][5] Nghệ sĩ đầu tiên của công ty
là bộ ba hip hop Keep Six. Khi họ không thu hút được sự nổi tiếng,
Yang Hyun-suk đã chuyển sự tập trung của mình sang bộ đôi Jinusean
và ra mắt 1TYM vào năm 1998. Cả hai nhóm đều là những nghệ sĩ thành
công được Yang Hyun-suk ghi nhận vì đã đưa YG và thể loại hip hop
trở thành nền âm nhạc chính thống của Hàn Quốc.[4]

Năm 1999, các nghệ sĩ của YG đã phát hành một
album hợp tác mang tên YG Family. Công ty sau đó đã phát hành các
sản phẩm âm nhạc của các nghệ sĩ như Perry, Swi.T, Big Mama, Lexy,
Gummy và Wheesung. Nó cũng thành lập công ty “YG Underground”, bao
gồm 45RPM và Stony Skunk. Năm 2001, album YG Family thứ hai được
phát hành. Trong số những nghệ sĩ khác, nó có sự góp mặt của cậu bé
13 tuổi, G-Dragon, khi đó đang là một thực tập sinh.[6]

Công ty đạt được thành công ở cả Hàn Quốc và Nhật
Bản với ca sĩ “thần tượng” đầu tiên Seven vào năm 2003,[7] người đã trở thành nghệ sĩ đầu
tiên của công ty cố gắng lấn sân sang thị trường âm nhạc Hoa Kỳ,
mặc dù màn ra mắt tại Hoa Kỳ của anh không đạt được thành
công.[8]

[add_random_link]

2006–2011: Đột phá chính[sửa | sửa mã nguồn]

Big Bang là nghệ sĩ thành công nhất của YG và chịu
trách nhiệm cho hơn một nửa tổng doanh số album của YG tại Hàn Quốc
từ năm 2014 đến năm 2017.[9]

Sau thành công của Se7en, YG đã thành lập nhóm
nhạc thần tượng đầu tiên Big Bang vào năm 2006. Mặc dù ban đầu được
đón nhận khá nồng nhiệt, nhưng sự bứt phá của nhóm được bắt đầu vào
năm sau và sự nổi tiếng ổn định của họ đã khiến họ trở thành một
trong những nhóm nhạc nam nổi tiếng nhất.[10] Tiếp theo là nhóm nhạc nữ đầu tiên 2NE1
của YG vào năm 2009,[11] trước khi tách nhóm vào năm 2016, họ đã được
coi là một trong những nhóm nhạc nữ thành công và nổi tiếng nhất ở
Hàn Quốc.[12][13]
Tương tự như Seven, cả hai nhóm đều có sự nghiệp thành công ở Nhật
Bản.[14][15][16]

2NE1 ra mắt vào năm 2009 với tư cách là nhóm nhạc nữ
đầu tiên của YG và trở thành nhóm nhạc đầu tiên có 9 bài hát quán
quân trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart.

Năm 2010, YG đã có một động thái được công bố rộng
rãi cho việc di dời đến một tòa nhà mới, trong khi trụ sở cũ trở
thành một trụ sở đào tạo.[17][18]
Cùng năm, công ty đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán
nhưng không thành công; người ta nghi ngờ rằng điều này là do công
ty có quá ít nhóm nhạc hoạt động và doanh thu không ổn định, mặc dù
thu nhập tăng trong năm 2009.[19] Cuối năm đó, công ty đã ký hợp đồng với nghệ
sĩ Psy.[20]

[add_random_link]

2012–2015: Sự công nhận quốc tế và mở rộng kinh
doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012 đã mang lại cho YG sự công nhận quốc tế
khi “Gangnam Style” của Psy trở nên phổ biến trên toàn thế giới như
một video lan truyền. Vào ngày 21 tháng 8, nó đã đứng ở vị trí số 1
trên iTunes Music Video Charts. Đây là thành tích đầu tiên của một
nghệ sĩ Hàn Quốc.[21]
Đến ngày 24 tháng 11, “Gangnam Style” đã trở thành video được xem
nhiều nhất trong lịch sử YouTube và là video đầu tiên vượt qua 1 tỷ
lượt xem.[22][23] Bài hát được cho là nguyên
nhân chính khiến giá cổ phiếu của YG tăng hơn 60%,[24] công ty sau đó đã nộp báo
cáo thường niên đầu tiên vào năm 2012 với lợi nhuận hơn
50%,[25] sau khi niêm yết
trên KOSDAQ vào năm trước.[3]

Cùng năm đó, công ty đã ký hợp đồng với rapper
kiêm nhà sản xuất Tablo, trưởng nhóm của nhóm nhạc hip hop Epik
High, bắt đầu lại sự nghiệp của anh sau một thời gian gián đoạn sự
nghiệp âm nhạc sau cuộc tranh cãi ở trường Stanford.[26] Epik High sau đó đã chuyển
sang YG sau thành công của anh.[27]

Việc Yang Hyun-suk tham gia nhiều hơn vào các
chương trình truyền hình thực tế sống còn đã dẫn đến một số thỏa
thuận hợp đồng với các thí sinh, bắt đầu với á quân mùa đầu tiên
của K-pop Star là Lee Hi.[28] Những người tham gia khác trong chương trình đã
được ký hợp đồng với tư cách là thành viên tiềm năng của các nhóm
nhạc nam tương lai của công ty. Vào mùa thứ hai của chương trình,
cả hai người chiến thắng, bộ đôi anh em Akdong Musician và á quân
Bang Ye-dam, đã ký hợp đồng với YG.[29][30]
Ngoài ra, chương trình thực tế WIN: Who is Next sau đó đã
được YG công bố, trong đó hai đội nam thực tập sinh cạnh tranh với
nhau để giành cơ hội ký hợp đồng với công ty và ra mắt với tư cách
là nhóm nhạc nam tiếp theo của YG. Phần kết của chương trình thực
tế đã chứng kiến sự hình thành của Winner.[31]

Winner ra mắt thành công vào năm 2014 và trở thành nhóm
nhạc K-pop nhanh nhất giành vị trí số 1 trên chương trình âm nhạc.
Họ đã giành được chiến thắng trong chương trình âm nhạc đầu tiên
chỉ 6 ngày sau khi ra mắt.

Vào năm 2014, YG đã mua lại đội ngũ nhân viên và
diễn viên của T Entertainment, bao gồm Cha Seung-won, Im Ye-jin và
Jang Hyun-sung.[32] Ngoài
ra, thông qua việc mua lại công ty quản lý người mẫu K-Plus, nó đã
mở rộng bộ phận diễn xuất của mình thông qua sự ra mắt diễn xuất
của người mẫu Lee Sung-kyung và Nam Joo-hyuk.[33] cũng đã ký hợp đồng với nữ diễn viên
Choi Ji-woo.[34][35][36][37]
Tập đoàn đầu tư tư nhân của tập đoàn LVMH, L Capital Asia, sau đó
đã thông báo rằng họ sẽ đầu tư 80 triệu USD vào YG. Có trụ sở chính
tại Singapore, L Capital Asia sẽ trở thành nhà đầu tư lớn thứ hai
của YG với 11,5% cổ phần, chỉ đứng sau 28% của Yang
Hyun-suk.[38] Năm
2014, YG cũng mở rộng sang lĩnh vực làm đẹp với việc thành lập
thương hiệu mỹ phẩm Moonshot.[39][40]

Vào năm 2015, YG đã đầu tư gần 100 triệu USD vào
một khu liên hợp công nghiệp mới có trụ sở tại Gyeonggi-do, dự kiến
sẽ hoàn thành vào tháng 12 năm 2018.[41] Bất động sản ở Seoul trị giá 16 tỷ KRW (14 triệu
USD) cũng được mua với mục đích mở rộng trụ sở chính của
họ.[42] Trong năm đó,
công ty cũng đã thành lập hai công ty con, công ty con đầu tiên do
Tablo đứng đầu,[43]
và công ty con thứ hai do các nhà sản xuất YG, Teddy Park của 1TYM
và Kush của Stony Skunk đứng đầu.[44] Ngoài ra, các thành viên của đội thua cuộc từ
chương trình thực tế WIN: Who is Next đã tập hợp lại và ra
mắt với tên iKON, cùng với một thành viên mới.[45]

[add_random_link]

2016–nay: Những phát triển gần đây và tranh
cãi[sửa | sửa mã nguồn]

iKon ra mắt vào năm 2015. Đĩa đơn năm 2018 của họ,
“Love Scenario,” đã phá vỡ nhiều kỷ lục vào thời điểm đó; trong đó
có kỷ lục bài hát đứng đầu bảng xếp hạng lâu nhất, bài hát có số
giờ “perfect all-kill” nhiều nhất và bài hát đầu tiên được KCMA
trao chứng nhận Bạch kim.
Blackpink ra mắt năm 2016 và trở thành nhóm nhạc nữ
K-pop đầu tiên có 4 đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng World
Digital Song Sales của Billboard.[46][47]

16 năm sau khi nhóm tan rã, nhóm nhạc nam K-pop
thế hệ đầu tiên Sechs Kies đã ký hợp đồng với YG vào tháng 5 năm
2016 để bắt đầu lại sự nghiệp của họ.[48][49][50]
Cùng tháng, hai doanh nghiệp công nghệ Trung Quốc Tencent và
Weiying Technology đã công bố khoản đầu tư 85 triệu USD vào YG.
Weiying chiếm 8,2% cổ phần của công ty và Tencent 4,5% chiếm cổ
phần.[51] YG
sau đó đã thêm Lee Jong-suk,[52]Kang Dong-won,[53] và Kim Hee-jung[54] vào danh sách diễn viên của họ.

YG ra mắt Blackpink vào năm 2016,[55] tiếp theo là nam rapper One
vào năm sau.[56] Cuối năm
đó, YG khởi động chương trình tìm kiếm tài năng mang tên Mix
Nine
, một cuộc thi giữa các thực tập sinh từ các công ty khác
nhau.[57][58] Mặc dù đội chiến thắng đã
được lên kế hoạch ra mắt với tư cách thần tượng,[59] YG tiết lộ rằng màn ra mắt
của nhóm nam chiến thắng đã bị hủy bỏ.[60][61] Sự
thất bại của chương trình đã dẫn đến khoản lỗ 7 tỷ KRW trong quý
đầu tiên và 4 tỷ KRW trong 3 tháng cuối năm 2017,[9][62] khiến JYP Entertainment vượt mặt YG để trở
thành công ty K-pop có giá trị cao thứ hai.[63]

Vào tháng 5 năm 2018, Psy rời công ty sau 8
năm.[64] Cuối năm đó, YG
đã khởi động YG Treasure Box, một chương trình cạnh tranh
sống còn để xác định đội hình cho nhóm nhạc nam tiếp theo của
họ.[65] Nhóm nhạc nam
Treasure đã ra mắt vào tháng 8 năm 2020.[66]

Sau vụ bê bối Burning Sun liên quan đến Seungri
của Big Bang, những cáo buộc tham nhũng xung quanh Yang Hyun-suk và
một vụ bê bối ma túy liên quan đến trưởng nhóm B.I của iKon, Yang
Hyun-suk đã từ chức CEO và từ chức khỏi tất cả các vị trí trong YG
và em trai của ông, Yang Min-suk, cũng đã từ chức CEO vào ngày 14
tháng 6 năm 2019.[67][68][69][70]
Hwang Bo-kyung được bổ nhiệm làm CEO mới của YG vào ngày 20 tháng 6
năm 2019.[71]

Vào ngày 4 tháng 5 năm 2021, Korea Exchange thông
báo rằng YG đã bị giáng cấp từ công ty blue-chip xuống doanh nghiệp
tầm trung thông thường, kể từ khi được thăng cấp vào tháng 4 năm
2013. Công ty ghi nhận khoản lỗ ròng 1,8 tỷ KRW và lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu là -0,5%. Hoạt động kinh doanh chính, sản xuất âm
nhạc và quản lý, đã trải qua tình trạng kinh doanh thua lỗ trong 2
năm qua.[72]

[add_random_link]

Đối tác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nước, YG đã có quan hệ đối tác với M-Boat
Entertainment và EunGun Entertainment, Yamazone Music và Booda
Sound. Sau khi hợp đồng với Big Mama và Soul Star kết thúc, EunGun
và M-Boat cũng kết thúc các hoạt động của họ với YG
Entertainment.

Bắt đầu từ năm 2005, YG mở rộng sang thị trường
nước ngoài. Se7en là nghệ sĩ YG đầu tiên mở rộng hoạt động sang
những nước còn lại của châu Á. YG đã hợp tác cùng Nexstar Records,
một nhãn hiệu Nippon Columbia, để quản lý việc phát hành những sản
phẩm tiếng Nhật của Se7en [73]

Universal Music Japan quản lý các hoạt động tại
Nhật của Big Bang,[74] và Avex Group quản lý các hoạt động tại Nhật của
2NE1.[75] YG
Entertainment phát hành các album tiếng Hàn thông qua 21 East
Entertainment tại Trung Quốc, GMM International tại Thái Lan, và
Universal Records tại Philippines.[76][77][78]

Năm 2011, YG Entertainment hợp tác với S.M.
Entertainment, JYP Entertainment, KeyEast, AMENT và Star J
Entertainment tạo nên United Asia Management để tạo ra một nỗ lực
quảng bá âm nhạc Hàn Quốc ra quốc tế [79]

[add_random_link]

KMP Holdings[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2010, KMP Holdings được thành lập
thông qua hợp tác giữa YG, S.M. Entertainment, JYP, Star Empire và
các công ty khác. KMP là nhà phân phối chính thức những sản phẩm
của những công ty trên. KMP là viết tắt của Korean Music
Power.[80]

[add_random_link]

United Asia Management[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2011, YG, SM, JYP, KeyEast, AMENT và
Star J Entertainment đã hợp tác thành lập United Asia Management
nhằm mục đích quảng bá âm nhạc Hàn Quốc ra thế giới.[81]

[add_random_link]

YGEX[sửa | sửa mã nguồn]

YGEX được thành lập dưới quan hệ đối tác giữa Avex
Group và YG Entertainment cho việc quảng bá và phát hành của các
nghệ sĩ YG tại Nhật Bản. Các nghệ sĩ của YGEX bao gồm tất cả những
nghệ sĩ đang hoạt động thuộc YG Entertainment.[82]

[add_random_link]

YG Plus[sửa | sửa mã nguồn]

YG Plus Inc., trước đây là Phoenix Holdings
Inc.,là một công ty truyền thông và quảng cáo được YG Entertainment
mua lại vào tháng 10 năm 2014. Yang Min-suk được bổ nhiệm làm CEO
của công ty, YG Entertainment sở hữu 38,6% cổ phần của công ty. Một
số khách hàng đáng chú ý của nó bao gồm Coca-Cola, SK Telecom và
The Face Shop. YG Plus hiện sở hữu 100% cổ phần của YG KPlus và YG
Golf Academy, với cổ phần thiểu số tại Moonshot và Nonagon. Năm
2019, công ty bước vào lĩnh vực phân phối âm nhạc. Vào ngày 27
tháng 1 năm 2021, nó đã được tiết lộ rằng Hybe Corporation và công
ty con công nghệ của Hybe, Weverse Company (trước đây là beNX) đã
đầu tư 70 tỷ KRW (~ 63 triệu USD) vào công ty.[83]

[add_random_link]

YG & Hyundai Card[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2012, YG đã kết hợp cùng với hãng sản
xuất Hyunndai để chung tay phát hành và quảng bá album Still
Alive
của Big Bang.[84]

[add_random_link]

Từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

YG Entertainment là một công ty tham gia rất nhiều
hoạt động từ thiện, tạo dựng chiến dịch cộng đồng cùng với WITH. Họ
quyên góp 100 won cho mỗi album bán ra, 1% từ các doanh thu bán lẻ,
và 1,000 won cho bất cứ các vé hòa nhạc nào được bán ra cho các tổ
chức từ thiện. Vào năm 2009, số tiền lên tới $141,000 USD. Họ vượt
mức số tiền đó vào năm sau với $160,000 USD. Tổng cộng là $87,000
USD dành cho các suất học bổng cho Holt Children’s Services trong
khi $69,000 USD là dành cho các trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo. YG
Family cũng đã trực tiếp quyên tặng $4,400 USD, đó là số tiền mua
than cho các gia đình nghèo khó trong mùa đông.[85] Công ty
cũng thông báo rằng sẽ ủng hộ khoảng USD $500,000 cho việc cứu trợ
các nạn nhân của trận động đất và sóng thần tại Nhật Bản năm
2011.[86]

[add_random_link]

Nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

[add_random_link]

Nghệ sĩ thu âm hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

[add_random_link]

Công ty con[sửa | sửa mã nguồn]

[add_random_link]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha Seung-won
  • Choi Ji-woo
  • Claudia Kim
  • Han Seung-yeon[a]
  • Jang Hyun-sung
  • Jang Ki-yong[b]
  • Jin Kyung
  • Jung Hye-young
  • Jung Yun-seok[a]
  • Joo Woo-jae[a][b]
  • Kal So-won
  • Kang Hui
  • Kang Seung-yoon
  • Kim Hee-ae
  • Kim Ji-soo
  • Kwon Han-sol[a]
  • Kwon Hyun-bin[a][b]
  • Kyung Soo-jin
  • Lee Ho-jung[b]
  • Lee Hyun-wook[b]
  • Lee Joo-myung
  • Lee Ki-taek
  • Lee Soo-hyuk[a]
  • Lee Sung-kyung
  • Lee Woo-je
  • Nam Kyu-hee[b]
  • Park Hyeong-seop[b]
  • Park So-yi
  • Park Soo-yeon
  • Park Tae-in[a]
  • Seo Jeong-yeon
  • Seo Lee-seo
  • Shim Young-eun
  • Son Na-eun
  • Wang Yi-jun
  • Yoo In-na
  • Yoo Seung-ho
Koo Junhoe

[add_random_link]

Vũ công[sửa | sửa mã nguồn]

[add_random_link]

Người mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

[add_random_link]

Thực tập sinh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Park Jinny (Secret Number) (tham gia Produce 48)

[add_random_link]

Cựu nghệ sĩ và diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

[add_random_link]

Cựu nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Keep Six (1996)[87]
  • Sechs Kies
    • Kang Sung-hoon (2016–2019)[88]
  • Jinusean (1997–2020)[c]
  • 1TYM (1998–2006)[d]
  • Masta Wu (2000–2016)[89]
  • Swi.T (2002–2005)[90]
  • Wheesung (2002–2006)
  • Gummy (2003–2013)
  • Big Mama (2003–2007)
  • Seven (2003–2015)
  • Digital Masta (2003–2011)[91]
  • Lexy (2003–2007)
  • Stony Skunk (2003–2008)
  • XO (2003–2004)
  • Wanted (2004–2006)[92]
  • Brave Brothers (2004–2008)
  • 45RPM (2005–2008)[93]
  • SoulStaR (2005–2007)[93]
  • Big Bang
    • Seungri (2006–2019)[94]
    • T.O.P (2006-2022)
  • 2NE1 (2009–2016)[95]
    • Minzy (2009–2016)[96][97]
    • Park Bom (2009–2017)
    • CL (2009–2019)
    • Dara (2009–2021)[98]
  • Psy (2010–2018)
  • Lee Hi (2012–2019)[99]
  • Epik High (2012–2018)
  • Winner
    • Taehyun (2014–2016)[100]
  • HIGHGRND Artists (2015–2018)[e]
  • Hi Suhyun (2014–2019)[f]
  • MOBB (2016–2019)[g]
  • One (2015–2019)[101]
  • Ikon
    • B.I (2015–2019)[102]

[add_random_link]

Cựu diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Park Han-byul (2002–2004)[93]
  • Jung Sung-il (2009–2011)[93]
  • Heo Yi-jae (2009–2011)[93]
  • Kang Hye-jung (2001–2013)
  • Stephanie Lee (2014–2017)[103]
  • Lee Yong-woo (2014–2017)
  • Koo Hye-sun (2003–2017)
  • Jung Yoo-jin (2016–2018)
  • Lee Jong-suk (2016–2018)
  • Go Joon-hee (2017–2019)
  • Oh Sang-jin (2017–2019)
  • Kim Hee-jung (2016–2019)
  • Kim Sae-ron (2016–2019)
  • Im Ye-jin (2014–2019)
  • Wang Ji-won (2018–2020)
  • Nam Joo-hyuk (2013–2020)

[add_random_link]

Cựu diễn viên hài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yoo Byung-jae (2015–2019)
  • Ahn Young-mi (2015–2020)

[add_random_link]

YG Family Concerts và Tours[sửa | sửa mã
nguồn]

  • One Concert 2003 (Hàn Quốc)
  • Color of the Soul Train 2003 (Hàn Quốc)
  • One Concert 2004 (Hàn Quốc)
  • Thank U Concert 2005 (Hàn Quốc)
  • One Concert 2005 (Hàn Quốc)
  • 10th Anniversary World Tour 2006 (Hàn Quốc, Nhật Bản và
    Mỹ)
  • One Concert 2007 (Hàn Quốc)
  • Concert 2010 (Hàn Quốc)
  • YG Family Concert 2012 (Hàn Quốc Nhật Bản)
  • YG Family Concert 2014:POWER (Vòng quanh thế giới)

[add_random_link]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b
    c d e
    f g as part of YGX Entertainment
  2. ^ a b
    c d e
    f g as part of YGKPlus
  3. ^ While no official
    disbandment was announced, Jinusean’s artist profile was removed in
    2020, signifying the group is no longer active under the
    label.
  4. ^ While no official
    disbandment was announced, 1TYM’s artist profile was removed in
    2014, signifying the group is no longer active under the
    label.
  5. ^ Artists: Hyukoh,
    Punchnello, OffonOff, Incredivle, The Black Skirts,
    IdiotapeProducers: Code Kunst & Millic
  6. ^ While no official
    disbandment was announced, Hi Suhyun’s artist profile was removed
    in 2019, signifying the group is no longer active under the
    label.
  7. ^ While no official
    disbandment was announced, MOBB’s artist profile was removed in
    2019, signifying the group is no longer active under the
    label.

[add_random_link]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b
    c[와이지엔터테인먼트] 연결재무제표 기준
    영업(잠정)실적(공정공시)
    [[YG Entertainment] Sales (provisional)
    performance based on consolidated financial statements (fair
    disclosure)] (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày
    17 tháng 11 năm 2021.
  2. ^ “YG Entertainment Major
    Stockholders”.
  3. ^ a
    b Song, Su-hyun (ngày 15 tháng 8 năm
    2016). “[KOSDAQ Star] Strong Japanese partner to defend YG from
    THAAD risk”. The Korea Herald. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm
    2016.
  4. ^ a
    b Lỗi chú thích: Thẻ
    <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có
    tên :0
  5. ^ Kim, JiYeon (ngày 19 tháng 5 năm 2012). “KPOP NEWS –
    The History of Yang Hyun Suk and YG: From ′Boy′ to ′CEO′ (Pt. 1)”.
    Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập
    ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  6. ^ “G-Dragon – 내 나이 열셋 (My Age is 13) Full MV”.
    YouTube. ngày 25 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 3
    năm 2015.
  7. ^ Lee, Nancy (ngày 21 tháng 3 năm 2013). “KPOP NEWS –
    [K-Pop Battle] Se7en vs. Rain”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày
    30 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  8. ^ “K-Pop Idols And The Formidable American Debut –
    KultScene”. KultScene (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 10 năm
    2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  9. ^ a
    b Park, Ga-young (ngày 30 tháng 5 năm
    2018). “YG Entertainment, fly or fail?”. The Investor (bằng
    tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2018.
  10. ^ “Big Bang’s Global Influence: How to Build a Boy
    Band That Lasts”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 11
    tháng 12 năm 2015.
  11. ^ (tiếng Triều
    Tiên) Kim, Hyeong-wu. 2NE1 아이돈케어 ‘힙합전사에서 귀여운 여인 깜짝 변신’ (2NE1’s
    “I Don’t Care” “Swift Change from Hip-Hop Warriors to Sweet
    Girls”
    ). IS Plus/Newsen. ngày 1 tháng 7 năm 2009.
    Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2009.
  12. ^ Herman, Tamar (ngày 12 tháng 7
    năm 2017). “10 Best K-Pop Girl Groups of the Past Decade: Critic’s
    Picks”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm
    2017.
  13. ^ Liu, Marian (ngày 17 tháng 2 năm 2017). “K-pop’s
    growing pains: Why Asia’s biggest bands are splitting up”.
    CNN. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017.
  14. ^ “53rd Japan Record Award winners”. Tokyograph.
    ngày 20 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm
    2012.
  15. ^ “AKB48 wins 53rd Japan Record Award”.
    Tokyograph. ngày 30 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm
    2012.
  16. ^ Shamdasani, Pavan (ngày 9
    tháng 11 năm 2009). “How to Crack Japan: The Big Bang Theory”.
    Time. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13
    tháng 1 năm 2010.
  17. ^ “YG Entertainment invests large amount of money
    in a new building for its artists”. Koreaboo (bằng tiếng
    Anh). ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm
    2016.
  18. ^ “YG Entertainment Moving to Own Company
    Building”. HanCinema (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16
    tháng 6 năm 2016.
  19. ^ “Korean entertainment firms fail to go public”.
    koreatimes. ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng
    6 năm 2016.
  20. ^ “Psy reveals the reason why he joined YG
    Entertainment”. dkpopnews.net. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm
    2012.
  21. ^ “The world’s first global Korean pop star”.
    4Music.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2012. Truy cập
    ngày 8 tháng 11 năm 2012.
  22. ^ “’Gangnam Style’ Most Watched YouTube Video
    Ever”. ABC News. ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  23. ^ “Psy Reflects On Fifth Anniversary of ‘Gangnam
    Style’: ‘I Still Don’t Know Why It Was So Special’”.
    Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
  24. ^ Cha, Seonjin. “Psy’s ‘Gangnam Style’ Hits 1 Billion
    Views on YouTube”. Bloomberg. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm
    2012.
  25. ^ “Has Psy’s ‘Gangnam Style’ Helped Double Daddy’s
    Stock?”. Yahoo Finance. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm
    2016.
  26. ^ Kim, JiYeon (15 tháng 11 năm 2011). “KPOP NEWS – Why
    Did YG Entertainment Sign Tablo and Psy?”. Mwave. Bản gốc
    lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm
    2016.
  27. ^ small_smiley (26 tháng 7
    năm 2012). “Epik High Signs with YG Entertainment”. Soompi.
    Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  28. ^ “KPOP NEWS – [Interview] What Lee Hi Wants from
    YG and Yang Hyun Suk”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6
    năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  29. ^ “Why did Akdong Musician choose YG
    Entertainment?”. Allkpop. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm
    2016.
  30. ^ “YG Entertainment Signs On the 12-Year Old Bang
    Yedam from ‘K-Pop Star Season 2’website=Ningin”. Bản gốc lưu trữ
    ngày 4 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm
    2016.
  31. ^ “Meet WINNER: K-Pop’s Exciting New Boy Band”.
    Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  32. ^ enews24 전수미 기자 (ngày 20
    tháng 1 năm 2014). “차승원, YG패밀리 됐다…싸이·빅뱅과 한솥밥” [Cha Seung Won
    becomes YG family… labelmates with Psy and Big Bang].
    enews24 (bằng tiếng Hàn). enews24. Bản gốc lưu trữ ngày 22
    tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2014.
  33. ^ “YG Entertainment forms a strategic partnership
    with model management company K PLUS | allkpop.com”.
    www.allkpop.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm
    2016.
  34. ^ “Choi Ji Woo Signs with YG Entertainment”.
    enewsWorld. ngày 26 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng
    3 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2016.
  35. ^ “Actress Choi Ji-woo joins YG Entertainment”.
    The Korea Herald. ngày 27 tháng 2 năm 2014.
  36. ^ “Actress Choi Ji-woo Joins YG Entertainment”.
    10Asia. ngày 26 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3
    năm 2014.
  37. ^ “Hallyu icon joins YG Family”. Korea JoongAng
    Daily. ngày 27 tháng 2 năm 2014.
  38. ^ Mok, Fei Fei (ngày 13 tháng 9 năm 2014). “L Capital
    Asia, YG Entertainment exploring potential tie-ups”. The Straits
    Times. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
  39. ^ “YG Entertainment to unveil cosmetics brand
    ‘moonshot’ with a launching party | allkpop.com”.
    www.allkpop.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm
    2016.
  40. ^ “Check Out Korea’s Hottest New Beauty Brand”.
    Refinery29. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  41. ^ Steven Koh (ngày 17 tháng 1
    năm 2015). “YG Entertainment To Invest Nearly $100 Million Into
    K-Pop Culture Venue”. Kpopstarz. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm
    2015.
  42. ^ “YG Entertainment Invests 16 Billion Won Into
    Expanding Headquarters”. news.nate.com. ngày 7 tháng 7 năm
    2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2015.
  43. ^ “Epik High to Start Their Own Label Backed By YG
    Entertainment and Headed by Tablo”. Naver. Truy cập ngày 25
    tháng 9 năm 2015.
  44. ^ “[단독]테디·쿠시, YG독립 레이블 만든다..양현석 직접 기획”.
    entertain.naver.com. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm
    2016.
  45. ^ “YG Entertainment confirms iKON is indeed making
    their debut in September! | allkpop.com”. www.allkpop.com.
    Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016.
  46. ^ Benjamin, Jeff (ngày 30 tháng 6
    năm 2017). “Blackpink Score Third No. 1 on World Digital Song Sales
    Chart, Lead K-Pop Females”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng
    1 năm 2018.
  47. ^ Zellner, Xander (ngày 25 tháng 6
    năm 2018). “BLACKPINK Makes K-Pop History on Hot 100, Billboard 200
    & More With ‘DDU-DU DDU-DU’”. Billboard. Truy cập ngày 26
    tháng 6 năm 2018.
  48. ^ Network, The Korea Herald/Asia News. “Sechs Kies inks
    contract with YG Entertainment”. entertainment.inquirer.net.
    Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016.
  49. ^ “젝스키스, YG서 빅뱅과 같은 대우조건 받는다”. 인사이트 (bằng
    tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016.
  50. ^ “KPOP NEWS – Sechs Kies Officially Joins YG
    Entertainment | Mwave”. mwave.interest.me. Bản gốc lưu trữ
    ngày 12 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm
    2016.
  51. ^ Frater, Patrick (ngày 31 tháng 5
    năm 2016). “China’s Tencent and Weiying Take $85 Million Stake in
    Korea’s YG Entertainment”. Variety. Truy cập ngày 1 tháng 6
    năm 2016.
  52. ^ Herald, The Korea (ngày 10 tháng
    5 năm 2016). “Actor Lee Jong-suk signs with YG”.
    www.koreaherald.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm
    2016.
  53. ^ Son, Ji-hyoung (ngày 18 tháng 1 năm 2016). “YG
    clinches contract with Kang Dong-won”. K-pop Herald. Truy
    cập ngày 10 tháng 5 năm 2016.
  54. ^ Cho, Na-young; Lee, Jae-ha (ngày
    23 tháng 5 năm 2016). “’꼭지-원빈조카’ 김희정, YG와 전속계약 ‘새출발’”. OSEN
    (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016.
  55. ^ “YG 새 걸그룹, ‘블랙 핑크’ 이름의 뜻은?[YG 새 걸그룹 최종발표③]”.
    Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2016.
  56. ^ “YG’s solo artist One debuts with ‘One Day’”.
    Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
  57. ^ “Watch: YG drops star-studded Mix Nine trailer”.
    SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 10 năm
    2017.
  58. ^ “Yet another idol competition show unveiled in
    South Korea”. AsiaOne. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm
    2017. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
  59. ^ 뉴스, JTBC (ngày 15 tháng 11 năm 2017). “’믹스나인’ 대국민 투표
    프로모션 영상 공개! 소년X소녀 ‘9’해줘” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 25 tháng
    11 năm 2017.
  60. ^ “우진영 측 “‘믹스나인’ 데뷔 무산 맞다, 연습생으로 복귀””.
    Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 2 tháng 5 năm
    2018.
  61. ^ “[공식입장 전문] YG측 “‘믹스나인’ 데뷔 무산, 6곳 기획사와 협의 끝
    결정..죄송””. OSEN (bằng tiếng Hàn). Naver. ngày 3 tháng 5 năm
    2018.
  62. ^ Park, Jeong-yeob (ngày 23 tháng 2 năm 2018).
    “Uncertainties lie ahead”. Mirae Asset Daewoo. Bản gốc (PDF)
    lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm
    2020.
  63. ^ Herman, Tamar. “TWICE Leads JYP Entertainment To
    Become No. 2 K-Pop Agency”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy
    cập ngày 12 tháng 7 năm 2018.
  64. ^ “[공식입장 전문] YG, 싸이와 8년만에 전속계약 종료..”아름다운 이별””.
    entertain.naver.com.
  65. ^ OSEN (ngày 20 tháng 9 năm 2018).
    “[공식입장] YG “新보이그룹 준비? 신인 나오는 것은 당연한 일””. mosen.mt.co.kr
    (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
  66. ^ “트레저, 8월 7일 데뷔 확정..블핑 이후 4년만 YG 신인[공식]”.
    스타뉴스 (bằng tiếng Hàn). ngày 20 tháng 7 năm 2020. Truy cập
    ngày 7 tháng 9 năm 2020.
  67. ^ Kim, Sohee; Kang, Shinhye (ngày
    14 tháng 6 năm 2019). “K-Pop Agency YG’s Founder Quits as Artists
    Accused of Drug Use”. Bloomberg (bằng tiếng Anh). Truy cập
    ngày 15 tháng 6 năm 2019.
  68. ^ Kim, Arin (ngày 14 tháng 6 năm 2019). “Yang quits as
    YG chief amid growing suspicions of drug offense cover-up”. The
    Korea Herald
    (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm
    2019.
  69. ^ Herman, Tamar (ngày 14 tháng 6
    năm 2019). “YG Entertainment Founder Yang Hyun-Suk Leaves K-Pop
    Company Amid Turmoil”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập
    ngày 16 tháng 6 năm 2019.
  70. ^
    https://variety.com/2019/biz/asia/yg-agency-boss-quits-as-k-pop-scandals-expand-1203252481/
  71. ^ “YG Entertainment Appoints New CEO and Addresses
    Scandals”. E! Online (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 6 năm
    2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  72. ^ Choi Pil-woo (ngày 6 tháng
    5 năm 2021). “SM·YG ‘우량→중견기업’ 강등, JYP 홀로 ‘굳건’”. The Bell
    (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy
    cập ngày 15 tháng 5 năm 2021.
  73. ^ McClure, Steve and Russell, Mark (ngày 11 tháng
    6 năm 2005). “Korean Pop Seeps Into Japan”. Billboard.
    Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
    Quản lý CS1:
    nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  74. ^ “Big Bang”. Big Bang – Universal Music
    Japan
    . Universal Music Group. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1
    năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  75. ^ “2NE1”. 2NE1 – Avex Official Website.
    Avex Group. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày
    22 tháng 1 năm 2011.
  76. ^ “It’s Confirmed! Universal Records Will Release
    2NE1 Albums!”. Universal Records Philippines Facebook Page.
    Facebook. ngày 20 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm
    2011.
  77. ^ “Lucky Number for 2011 is Se7en”. Universal
    Records Philippines Facebook Page
    . Facebook. ngày 8 tháng 12
    năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  78. ^ “VIPs, You’re Next”. Universal Records
    Philippines Facebook Page
    . Facebook. ngày 13 tháng 1 năm 2011.
    Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  79. ^ (tiếng Hàn) Lee, Jung Hyung (ngày 8
    tháng 4 năm 2011). “키이스트, SM, YG, JYP 등 6개사 아시아 매니지먼트 에이전시 ‘UAM’
    설립! (KeyEast, SM, YG, JYP & more join forces to establish a new
    global agency, “United Asia Management”)”. Naver.com. Truy cập ngày
    8 tháng 4 năm 2011.
  80. ^ “MK News”. Truy cập 17 tháng 2 năm
    2015.
  81. ^ “UAM -United Asia Management”. Bản gốc lưu trữ
    ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm
    2015.
  82. ^ “YGEX オフィシャルレーベルサイト” [YGEX Official Website].
    YGEX (bằng tiếng Nhật). YG Entertainment and Avex Group. Bản
    gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm
    2011.
  83. ^ Hwang, Hye-jin (ngày 27 tháng 1
    năm 2021). “빅히트 측 “YG에 700억 규모 투자 단행, 음반음원 유통 사업 협업”(공식)”.
    Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm
    2021.
  84. ^ “빅뱅 6월6일 새 앨범 발표 깜짝 선언!” [Album mới của BIGBANG
    được công bố vào ngày 6 tháng 6, một thông báo bất ngờ!] (bằng
    tiếng Hàn). YG Family. 21 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3
    tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2021.
  85. ^
    (tiếng Hàn) “YG, 2년 연속 1억원+@ 금액 기부”. Newsen. ngày 28 tháng
    12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011.
  86. ^ Lee, Hye-rin (ngày 15 tháng 3 năm 2011). “YG, 日대지진
    피해에 5억원 기부 결정” [YG Entertainment decided to donate 500 million won
    to earthquake victims]. Naver News (bằng tiếng Triều Tiên).
    NHN Corp. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011.
    Quản lý CS1:
    ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  87. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7
    năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017.
    Quản lý CS1: bản
    lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  88. ^ “강성훈, YG 전속계약 해지+젝스키스 활동 종료 “진심으로 사과”(전문)”.
    entertain.naver.com.
  89. ^ “YG “최근 마스타우 떠났다, 향후 음악활동 응원” 공식입장” (bằng tiếng
    Hàn). xsportsnews. ngày 8 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1
    năm 2016.
  90. ^ “Yang Hyun Suk opens up about how his
    relationship with wife Lee Eun Joo began”.
    allkpop.
  91. ^ “Dok2, Masta Wu, Sojin, and Digital Masta to
    release collaboration track, “Finale””. ngày 27 tháng 11 năm
    2014.
  92. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11
    năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2017.
    Quản lý CS1: bản
    lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  93. ^ a b
    c d e “FORMER MEMBERS (WAS IN YG)”. ngày 21 tháng 6
    năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 26
    tháng 7 năm 2017.
  94. ^ “[공식] YG 측 “승리와 전속계약 종료..아티스트 관리 못한 점 인정·반성”
    [전문]”. 다음 연예. ngày 13 tháng 3 năm 2019.
  95. ^ “K-pop girl band 2NE1 breaks up”. ngày 25 tháng
    11 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2016.
  96. ^ “’2NE1’에 대한 공식 입장”. YG Entertainment. ngày 5
    tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2016.
  97. ^ Doo, Rumy (ngày 5 tháng 4 năm 2016). “Member Minzy to
    leave 2NE1”. Kpop Herald. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm
    2016.
  98. ^ Son Ji-nah (ngày 14 tháng 5
    năm 2021). “산다라박, YG엔터테인먼트와 전속계약 만료(전문)[공식]”. Maekyung
    Sports
    (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm
    2021. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  99. ^ “YG 측 “이하이와 전속계약 종료, 서로 앞날 응원하기로”(공식)” (bằng
    tiếng Hàn). ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  100. ^ “YG “위너 남태현 탈퇴 확정, 4인조 재편”(공식입장 전문)”. Truy cập
    ngày 5 tháng 12 năm 2016.
  101. ^ 박정선 기자 (ngày 17 tháng 7 năm
    2019). “[인터뷰②] ‘굿바이썸머’ 정제원 “YG와 계약 만료..1인 기획사 계획”” (bằng tiếng
    Hàn). Naver. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2019. Truy cập
    ngày 3 tháng 5 năm 2021.
  102. ^ Yim, Hyun-su (ngày 12 tháng 6 năm 2019). “B.I quits
    iKON over attempted drug purchase” (bằng tiếng Anh). The Korea
    Herald.
  103. ^ “[공식입장] 스테파니 리, YNK엔터와 전속계약..임수정과 한솥밥”.
    OSEN (bằng tiếng Hàn). ngày 26 tháng 4 năm 2017. Truy cập
    ngày 26 tháng 4 năm 2017.

[add_random_link]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • YG Entertainment trên Facebook
  • YG Entertainment trên Twitter
  • YG Entertainment trên Instagram
  • YG Entertainment trên YouTube

Lấy từ
“https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=YG_Entertainment&oldid=69598650”

Câu hỏi về Yg Entertainment Tuyển Thực Tập Sinh Như Thế
Nào

Nếu có bắt kỳ thắc mắc nào về Yg Entertainment Tuyển Thực
Tập Sinh Như Thế Nào
hãy cho chúng mình biết nhé, mọi câu
hỏi hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình hoàn thiện hơn trong các bài
sau nhé! Bài viết Yg Entertainment Tuyển Thực Tập Sinh Như
Thế Nào
được mình và team tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu
thấy bài viết Yg Entertainment Tuyển Thực Tập Sinh Như Thế Nào giúp
ích cho bạn thì hãy ủng hộ team Like hoặc Share nhé!
[serp_addcat]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *